Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

 https://youtube.com/watch?v=KEfpGsgeXdo&feature=share



BA TRIEU AU

 BÀ TRIỆU ẨU : TRIỆU THỊ TRINH

 



Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta"

Đạp cơn sóng dữ quậy ngông cuồng
Chém cá tràng kình dậy biển Đông
  Giúp nuớc xây nhà xua giặc mạnh
  
Dương cờ khởi nghĩa dựng binh hùng

 Bồ Điền[ 1] giữa trận so đao kiếm
Gái Việt bên trời lập chiến công
Nữ tướng Nhụy Kiều danh nỗi tiếng [2]
Ngàn sau rạng rỡ giống Tiên-Rồng.
 

                                                            voduonghonglam[vophubong]

  ----------------------------------------------------------------------------------------------------------

    Chú thích:
[1] Bồ- Điền : căn cứ địa xảy ra những trận chiến quyết liệt
 [Bồ Điền giữa trận so đao kiếm] giữa quân Bà và quân Ngô... 
 
[2]  Nhụy Kiều : Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa.
--------------------------------------------------------------
===================================================================
 
Notes:  Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248)
(Bà Triệu)

Cuộc đời và sự nghiệp

Tượng Bà Triệu tại đền thờ trên núi Nưa thuộc thị trấn Nưa huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (8 tháng 11 năm 226)[1] tại miền núi Quan Yên (hay Quân Yên), quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Từ nhỏ, bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: “Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng TrắcTrưng Nhị”. Cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng[2] ở Quan Yên.

Lớn lên, bà là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Đến năm 19 tuổi gặp phải người chị dâu (vợ ông Đạt) ác nghiệt,[3] bà giết chị dâu rồi vào ở trong núi Nưa (nay thuộc các thị trấn Nưa huyện Triệu Sơn, xã Mậu Lâm huyện Như Thanh, xã Trung Thành huyện Nông Cống, Thanh Hóa), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ.

Mùa xuân năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô (Trung Quốc) tàn ác, dân khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại. Lúc đầu, anh bà không tán thành nhưng sau chịu nghe theo ý kiến của em.

Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm huyện trị Tư Phố[4] nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng con sông này.

Đang lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời.[5] Các nghĩa binh thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Bà đã phối hợp với ba anh em họ Lý ở Bồ Điền đánh chiếm các vùng đất còn lại ở phía Bắc Thanh Hóa ngày nay, đồng thời xây dựng tuyến phòng thủ từ vùng căn cứ Bồ Điền đến cửa biển Thần Phù (Nga SơnThanh Hoá) để ngăn chặn viện binh của giặc Ngô theo đường biển tấn công từ phía Bắc. Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà[6] và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Triệu đánh giặc. Để chia rẽ nghĩa quân, giặc đã xảo quyệt phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp của vùng ven biển), song Bà không một chút xao động. Để mua chuộc Bà Triệu, giặc bí mật sai tay chân thân tín tới gặp và hứa sẽ cung cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, song, Bà cũng chẳng chút tơ hào. Sau nhiều trận trực tiếp đối địch và cũng là hơn nhiều trận liên tiếp chịu nhiều thất bại đau đớn, hễ nghe tới việc phải đi đàn áp Bà Triệu là binh lính giặc lại lo lắng đến kinh hồn bạt vía. Tương truyền, quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên phải thốt lên rằng:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.

Dịch:

Múa giáo đánh cọp dễ,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó.

Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh,[7] vua Ngô là Tôn Quyền liền phái tướng Lục Dận (cháu của Lục Tốn), sang làm Thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu úy, đem theo 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đến nơi, tướng Lục Dận liền dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân.

Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền.[8] Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng.

Đền Bà Triệu tại xã Triệu Lộc, huyện Hậu LộcThanh Hóa.

Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được năm, sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.[9]

Cách nơi  mất không xa, trên núi Gai ngay sát quốc lộ 1A (đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, cách thành phố Thanh Hóa 18 km về phía Bắc) là đền thờ . Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 (âm lịch), người dân trong vùng vẫn tổ chức làm lễ giỗ bà.




Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 263[11], khi Lã Hưng giết thứ sử Tôn Tư và dâng các châu cho Tào Ngụy, sau này là nhà Tấn.

Bà Triệu – Wikipedia tiếng Việt


Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

Trang thơ Trang Châu

 

Trang thơ Trang Châu


Tao sẽ vui xuân cùng thiên hạ

Dù Tết năm nay không có mầy
Nói rứa chứ mình tao cũng chán
Thiếu mầy rượu không đã cơn say

Bao năm rồi phải không mầy nhỉ
Hai đứa ôm chung giấc mộng đầy
Cái thuở hồn đang non trẻ ấy
Xem đời dễ như trở bàn tay

Tao nhớ chúng mình say ngất ngưởng
Một đêm trừ tịch khói hương bay
Văn chương chửi đổng qua thời thế
Chính trị bàn từ đông sang tây
Chán chê hai đứa kềnh ra ngủ
Sáng dậy thề nhau: Tao không say!

Một kỷ niệm xưa mầy có nhớ
Hai đứa yêu và đã đắm say
Cô gái trước nhà căn gác trọ
Nhìn mình đôi má đỏ hây hây
Một dạo chúng mình tương tư quá
Tao làm thơ, mầy hát suốt ngày!
Bây giờ em đã lên bà lớn
Con đứa tay bồng, đứa dắt tay
Mà mấy vẫn còn lưu lạc đó
Mà tao vẫn còn lất khất đây

Nhắc đôi kỷ niệm ngày xưa để
Buồn cho thế sự của hôm nay
Bao năm mơ ước chưa tròn ý
Duyên chỉ thêm nhiều men đắng cay
Đuổi đeo, đeo đuổi trăm hình bóng
Rút cuộc còn tao với một mầy!

Đã hẹn xuân nầy ăn Tết muộn
Chúc nhau nâng một cốc rượu đầy
Những tưởng chông gai cùng sát cánh
Nào ngờ thế nước bắt chia tay!
Còn đâu những buổi sương chiều xuống
Mưa lạnh, đường xa, gió heo may
Bấm tay ngồi đếm ngày phiêu bạt
Chợt thấy xuân về trên khóm cây

Mầy vẫn âm thầm quê cũ sống
Tao phải bôn ba đất nước nầy
Cách sông, cách núi, lòng không cách
Nhớ mầy tao chỉ một cơn say
Văn chương xứ Việt giờ chắc đắt?
Mấy mươi triệu kẻ đọc văn mầy?
Văn mầy còn như văn ngày trước
Giọng cười pha lẫn ý chua cay?

Tao ở bên nầy xem tuyết trắng
Thơ lòng một cõi tha hồ hay
Thơ hay khốn nỗi không người đọc
Nhìn tóc hoe vàng nhớ tóc mây!

Tao sẽ vui xuân cùng thiên hạ
Dù Tết năm nay không có mầy
Nói rứa chứ mình tao cũng chán
Rượu buồn, thiếu bạn, uống không say

Trang thơ Trang Châu

Nhà thơ Trang Châu tên thật là Lê Văn Châu, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 tại Huế. Ông là con trai thứ của cựu trung tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Nghiêm và bà Trần Thị Thuận. Cha Trang Châu mất tại Sài Gòn ngày 27 tháng 1 năm 1988 còn mẹ qua đời lúc ông lên 9 tuổi.

Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Pellerin, Thiên Hựu (Huế), Yersin (Đà Lạt). Tốt nghiệp Y khoa năm 1966. Là bác sĩ quân y, phục vụ trong binh chủng nhảy dù từ năm 1966 đến năm 1971.

Trang Châu lập gia đình cùng bà Hoàng Kim Uyên, con gái nhà thơ Hoàng Trọng Thược, Á hậu Việt Nam năm 1976 và có hai con trai.

Trang Châu vừa làm thơ vừa viết văn. Trước 1975, ông cộng tác với các tạp chí: Tiền Phong, Khởi Hành, Văn Học… Ông từng đoạt giải thưởng văn học của Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa với cuốn bút ký nhan đề Y sĩ tiền tuyến vào năm 1969.

Ông tị nạn tại Montréal Canada từ năm 1977, hiện hành nghề y tại phòng mạch tư. Tiếp tục sáng tác, nhưng ít gửi bài đăng báo.

Tháng 6 năm 1987, Trang Châu được bầu làm Chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Canada sau khi giữ chức chủ tịch trung tâm Văn Bút Québec. Ông được bầu làm chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên toàn thế giới một nhiệm kỳ từ năm 1991 đến năm 1993.

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Tình một thuở (1964)
  • Y sĩ tiền tuyến (bút ký, Nhà xuất bản Đường Sáng, 1970)
  • Thơ Trang Châu (1989)
  • Về Biển Đông (bút ký, 1995)
  • Dì Thu (tập truyện ngắn)
  • Những bài thơ hay nhất của nhà thơ Trang Châu - Thica.net
  • Nhạc nền ngâm thơ Nữ.